HỘI THẢO KHOA HỌC “TRUNG TÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN (CNEST): CÁC KHÍA CẠNH KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ KHOA HỌC-KỸ THUẬT”

ham dự và đồng chủ trì Hội thảo có Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc và Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam Ngài Konstantin Vnukov; Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Lê Hồng Tịnh; Viện trưởng Viện Năng lượng […]

ham dự và đồng chủ trì Hội thảo có Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc và Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam Ngài Konstantin Vnukov; Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Lê Hồng Tịnh; Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (NLNTVN) Trần Chí Thành, cùng các đại biểu, chuyên gia Nga và Việt Nam, và đại diện lãnh đạo các đơn vị, cơ quan có liên quan.

Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ KH&CN Phạm Công Tạc nhận định: “Tại Việt Nam, lò phản ứng nghiên cứu (LPƯNC) Đà Lạt tuy có công suất nhỏ nhưng đã đóng vai trò to lớn trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ KH&CN Việt Nam cũng như các ứng dụng trong nông nghiệp, y tế và nhiều ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, lò phản ứng với công suất 500 kW này không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước. Điều này đặt ra vấn đề cần thiết xây dựng một lò nghiên cứu mới với công suất lớn hơn”. Ông Phạm Công Tạc cho biết thêm rằng, theo quan điểm của cá nhân, ông thấy việc xây dựng Trung tâm KH&CN năng lượng hạt nhân (Center for Nuclear Energy Science and Technology – CNEST) là vô cùng cần thiết, đáp ứng được nhiều yêu cầu về kinh tế, nông nghiệp, xã hội, y tế cũng như đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nhiều khía cạnh cuộc sống.

Trong bài phát biểu của mình, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên bang Nga tại Việt Nam Konstatin Vnukov cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thành lập CNEST trong sự phát triển hội nhập của Việt Nam. Đại sứ Konstatin Vnukov đã nhắc đến câu chuyện 33 năm trước, đội ngũ chuyên gia Nga và Việt Nam cùng hợp tác nâng cấp lò phản ứng, lắp đặt một số trang thiết bị chuyên dụng, v.v.. . Nhờ vậy, LPƯNC Đà Lạt đã bắt đầu hoạt động trở lại, dẫn đến kết quả là nhiều nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đã được thực hiện tại lò phản ứng Đà Lạt, đem lại nhiều đóng góp vào đời sống kinh tế xã hội của đất nước. Việt Nam cũng trở thành quốc gia có những công trình nghiên cứu về năng lượng hạt nhân. Ông nhấn mạnh, để có thể đem lại những hiệu quả lớn hơn và việc vận hành lò phản ứng an toàn hơn, Việt Nam cần có những cơ sở vật chất phục vụ cho công tác nghiên cứu tốt hơn cũng như đem lại những ứng dụng ở tầm cao hơn trong mọi mặt đời sống kinh tế xã hội.

Trong bài trình bày, Viện trưởng Trần Chí Thành cho biết việc thành lập CNEST giúp phục vụ một số mục tiêu nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, khoa học vật liệu, công nghệ sinh học, sản xuất đồng vị phóng xạ cho y tế và xuất khẩu sang các nước xung quanh, sản xuất các nguồn phóng xạ và chiếu xạ silic, đẩy mạnh ứng dụng năng lượng nguyên tử (NLNT) trong các lĩnh vực khác cũng như đào tạo nhân lực cho ngành hạt nhân. Vì vậy, không chỉ đóng vai trò thay thế lò phản ứng nghiên cứu Đà Lạt khi lò hết thời hạn vận hành, CNEST với LPƯNC mới công suất khoảng 10 – 15 MWt sẽ mở ra nhiều hướng nghiên cứu và ứng dụng mới, qua đó góp phần nâng cao tiềm lực của ngành NLNT.

Đối với một Trung tâm KH&CN năng lượng hạt nhân, thiết bị nghiên cứu chính sẽ là LPƯNC hạt nhân và/hoặc máy gia tốc hạt. Tùy vào tiềm lực kinh tế, nhân lực, tầm nhìn dài hạn của chương trình hạt nhân mà mỗi quốc gia có thể đầu tư xây dựng một hoặc một số CNEST với một quốc gia trên 90 triệu dân như Việt Nam. Dự kiến xây dựng một CNEST đưa vào hoạt động năm 2025 là tầm nhìn dài hạn và phù hợp với xu hướng chung của nước đang phát triển trong khu vực và trên thế giới như Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Bangladesh, Pakistan, Ấn Độ, Hàn Quốc, … đã thực hiện từ nhiều năm trước đây.

Nhìn lại, ngành Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã trải qua hơn 40 năm hình thành và phát triển, đồng hành với dự án khôi phục, mở rộng, vận hành và khai thác sử dụng LPƯNC Đà Lạt công suất khiêm tốn 500 kW (hay 0,5 MWt), nhưng đã có đóng góp to lớn cho phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng tiềm lực hạt nhân của quốc gia, được Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đánh giá cao so với mặt bằng phát triển KH&CN hạt nhân của các nước Đông Nam Á và khu vực châu Á. Vai trò lịch sử của trên 60 năm quản lý và vận hành LPƯNC Đà Lạt (1963-2025) đã và đang thúc đẩy các ứng dụng của kỹ thuật hạt nhân cho các lĩnh vực y tế, công-nông nghiệp, nghiên cứu bảo vệ môi trường, … và xây dựng đội ngũ sẽ được chuyển giao cho CNEST mới, với quy mô lớn hơn nhiều lần để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về cung cấp sản phẩm và dịch vụ ở trong nước và xuất khẩu ra thị trường khu vực. Với LPƯNC mới, CNEST cho phép mỗi năm sản xuất trên 20.000 Ci đồng vị phóng xạ các loại (Tc-99m, I-131, I-135, P-32, Sm-153, Lu-177, Y-90, …) phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh; trên 1000 nguồn phóng xạ kín các loại (Ir-192, Se-75, Co-60, …) phục vụ cho y tế và công nghiệp; dịch vụ phân tích nguyên tố bằng kỹ thuật kích hoạt nơtrron phục vụ các ngành; dịch vụ chiếu xạ pha tạp silic cho thị trường khu vực để chế tạo vật liệu bán dẫn; … Bên cạnh tạo ra nhiều công nghệ, sản phẩm và các hoạt động dịch vụ kỹ thuật có khả năng thương mại hóa, CNEST mới sẽ cho phép mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới để nâng cao tiềm lực KH&CN của quốc gia trong lĩnh vực hạt nhân, đặc biệt trình độ khoa học, công nghệ về lò phản ứng, vật liệu, vật lý hạt nhân, hóa phóng xạ … sẽ được nâng lên tầm cao mới, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao cho phát triển kinh tế và góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng.

Tại Hội thảo, các chuyên gia Nga gồm có: ông Dmitry Vysotsky, giám đốc về các hướng lò nghiên cứu, công ty “Rosatom overseas”; ông Ruslan Kuatbetov, Trưởng phòng phát triển sản phẩm lò nghiên cứu công ty “Rosatom overseas”; ông Mikhail Kalugin, Phó Trưởng ban của Tổ hợp công nghệ hạt nhân, Viện Kurchatov; ông Sergey Musaelyan, giám đốc các lò nghiên cứu cỡ nhỏ và trung bình của ASE Group, Rosatom; ông Sergey Evdonin, quản lý dự án tập đoàn United Innovation Corporation đã nêu những điểm quan trọng trong CNEST mà Nga sẽ hỗ trợ Việt Nam trong việc tư vấn, thiết kế, xây dựng, lắp đặt, v.v… Đóng vai trò nổi bật trong CNEST là lò phản ứng nghiên cứu đa mục tiêu với năm kênh ngang và 20 hot cells. Từ lò phản ứng nghiên cứu đa mục tiêu này, Việt Nam hoàn toàn có khả năng thực hiện được những hướng nghiên cứu cơ bản về vật lý hạt nhân; đào tạo nguồn nhân lực NLNT; nghiên cứu về khoa học vật liệu, công nghệ sinh học v.v..; sản suất đồng vị phóng xạ, dược chất phóng xạ, đáp ứng nhu cầu điều trị ung thư trong nước và xuất khẩu sang các quốc gia ASEAN; sản xuất các nguồn phóng xạ và chiếu xạ silic, v.v…; ứng dụng NLNT trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, tài nguyên môi trường, hỗ trợ xuất khẩu, chống biến đổi khí hậu, v.v…

Như vậy khi sở hữu lò phản ứng nghiên cứu đa phương tiện trong CNEST, Việt Nam có thể mở ra nhiều hướng phát triển mới trong việc liên kết liên ngành trong nghiên cứu, ứng dụng với những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Những hoạt động liên kết này có sức tác động rất lớn đến sự phát triển của cả vùng, địa phương. Các chuyên gia ROSATOM đã lấy ví dụ về lò phản ứng nghiên cứu đặt trong khuôn viên trường đại học Sao Paulo, trường đại học công lớn nhất Brazil, trong 51 năm tồn tại của mình đã góp phần không nhỏ vào việc làm nên sự thịnh vượng của thành phố này.

Tại Hội thảo, các đại biểu đã thảo luận rất sôi nổi, nhiều đại biểu Việt Nam đã đưa ra những câu hỏi thể hiện sự băn khoăn về độ an toàn của lò phản ứng nêu trong dự án Trung tâm KH&CN năng lượng hạt nhân. Trả lời câu hỏi của Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Lê Hồng Tịnh, ông Dmitry Vysotsky và Mikhail Kalugin cho rằng, rất nhiều lò phản ứng nghiên cứu do Rosatom cung cấp công nghệ đều hoạt động rất tốt, trong đó ngay Viện nghiên cứu Kurchatov cũng sở hữu vài lò và địa điểm đặt lò đều ở thủ đô Matxcơva. Những lò phản ứng nghiên cứu này đều phải đạt các tiêu chí về an toàn rất chặt chẽ từ thiết kế, lắp đặt, bảo dưỡng và vận hành. Ông Dmitry Vysotsky cũng lưu ý sự khác biệt về công suất giữa lò nghiên cứu và năng lượng khiến lò nghiên cứu an toàn hơn và cho biết thêm rằng vòng đời lò nghiên cứu rất dài và có thể tiến hành nâng cấp, gia hạn. Sau khi hết thời hạn vận hành, nhiều lò nghiên cứu đã trở thành bảo tàng khoa học.

Một trong những lo lắng khác của các đại biểu Việt Nam là vấn đề chi phí đầu tư ban đầu và chi phí vận hành, bảo dưỡng lò phản ứng. Ông Vysotsky cho biết, do dự án điện hạt nhân Ninh Thuận đã bị dừng nên một số hạng mục phục vụ cho dự án này sẽ bị loại bỏ, điều đó sẽ giúp giá thành của CNEST giảm xuống dưới con số ước tính 500 triệu đô la như ban đầu. Về chi phí vận hành, bảo dưỡng hàng năm, tuy chưa có con số cụ thể nhưng theo cách tính của ông, các hoạt động sản xuất đồng vị phóng xạ, dược chất phóng xạ, dịch vụ đánh giá không phá hủy, v.v… sẽ góp phần trang trải không dưới 60% số này. Tuy nhiên về lâu dài, CNEST sẽ đem lại những lợi ích hết sức to lớn cho ngành khoa học Việt Nam cũng như nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác trong xã hội.

Tuy ngành NLNT (Viện NLNTVN) đã có bước chuẩn bị chu đáo để thực hiện dự án xây dựng CNEST, nhưng CNEST có hoạt động hiệu quả hay không, đặc biệt là trong giai đoạn thế giới mở hiện nay với nhiều hợp tác đa phương (IAEA, ASEAN, …), hợp tác song phương, thu hút nhiều chuyên gia giỏi trong nước, việt kiều và người nước ngoài vào làm việc, thì việc lựa chọn địa điểm xây dựng CNEST sẽ đóng vai trò quyết định. Qua kinh nghiệm của các nước và thực tế vận hành LPƯNC Đà Lạt, dự án CNEST cần được xây dựng tại địa điểm không quá xa thành phố lớn, sân bay quốc tế, nơi tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, các bệnh viện, và đặc biệt là các cơ sở kinh doanh, các doanh nghiệp sẵn sàng nhận chuyển giao sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao từ CNEST.

Hiện nay chúng ta đang có điều kiện thuận lợi để thực hiện dự án CNEST. Nếu đạt được các yếu tố về “địa lợi, nhân hòa” thì dự án CNEST mới sẽ là bước đột phá của ngành hạt nhân nước ta.

Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ

There are no comments yet

Tin khác đã đăng