Khoa học công nghệ: Động lực phát triển kinh tế biển

Các nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) đã góp phần tích cực trong phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh quốc phòng, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển. Song để đáp ứng được yêu cầu hội nhập KHCN biển Việt Nam vẫn còn nhiều điều phải khắc […]

Các nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) đã góp phần tích cực trong phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh quốc phòng, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển. Song để đáp ứng được yêu cầu hội nhập KHCN biển Việt Nam vẫn còn nhiều điều phải khắc phục.
Tích cực cho kinh tế – dân sinh

Theo PGS-TS. Trần Đức Thạnh – nguyên Viện trưởng, Viện Tài nguyên và Môi trường biển, quy mô kinh tế biển và vùng ven biển bình quân đã đạt 47-48% GDP của cả nước, kinh tế thuần biển chiếm khoảng 20-22% tổng GDP của cả nước… Trong đó các ngành hoạt động trên biển tới 98% (khai thác dầu khí 64%, hải sản 14%, vận tải và dịch vụ cảng biển hơn 11%, du lịch biển hơn 9%). Những thành tựu ấy có phần đóng góp xứng đáng của KHCN biển.

Những đóng góp của hoạt động KHCN biển tiêu biểu như việc triển khai và ứng dụng lĩnh vực ăn mòn vật liệu trong môi trường biển; các đặc trưng kỹ thuật, quy phạm công trình thềm lục địa; độ an toàn và tuổi thọ công trình biển; khai thác và vận chuyển an toàn dầu thô… đã góp phần tích cực cho phát triển hệ thống cảng biển.

Bên cạnh đó, hoạt động KHCN biển đã cung cấp những đánh giá tổng hợp về hệ thống vũng, vịnh, đầm phá, cửa sông và hải đảo, phục vụ tích cực cho công tác xây dựng chiến lược và quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế – xã hội.

Chúng ta cũng đã xây dựng được các thông số kỹ thuật, quy trình giám sát và quan trắc môi trường; ứng phó tràn dầu trên biển; cung cấp cơ sở khoa học cho soạn thảo và ban hành các kế hoạch chiến lược, quy chuẩn quốc gia về tài nguyên môi trường biển.

Ngoài ra, việc “làm chủ” các công nghệ nuôi, sinh sản nhân tạo, di truyền giống, nhân giống và phát triển một số đặc sản có giá trị kinh tế cao đã tạo ra các sản phẩm phục vụ xuất khẩu, đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế – dân sinh biển, vùng ven biển và hải đảo Việt Nam…

Cần xây dựng chiến lược

Những thành quả mà KHCN biển đã đạt được không thể phủ nhận, tuy nhiên, ngành KHCN biển Việt Nam đang gặp không ít khó khăn, như: Đầu tư kinh phí cho KHCN biển còn hạn chế, nguồn vốn chủ yếu từ ngân sách nhà nước. Gần đây, dù đầu tư kinh phí của nhà nước cho lĩnh vực này tăng đáng kể song vẫn còn rất hạn chế so với nhu cầu. Nhất là những lĩnh vực đòi hỏi công nghệ cao, cần chuỗi số liệu khảo sát và thực nghiệm dài. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ KHCN biển còn mỏng, hạn chế cả về số lượng và chất lượng, do chưa có chế độ ưu đãi thích đáng để động viên cán bộ KHCN biển- những người phải làm việc trong điều kiện gian khổ, vất vả, nguy hiểm; chưa có chính sách, cơ chế thích hợp để chủ động bổ sung, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ KHCN biển trẻ… khiến hoạt động nghiên cứu KHCN biển còn thiếu tính chuyên nghiệp, nội dung nghiên cứu thiếu chiều sâu và dàn trải…

Để thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế, góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng, quyền chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển, đồng thời tạo nên một thương hiệu KHCN trong hội nhập quốc tế, PGS-TS. Trần Đức Thạnh cho rằng: Cần phải xây dựng chiến lược, xác định quy mô và tầm vóc của các hoạt động nghiên cứu ứng dụng và triển khai công nghệ, các vấn đề ưu tiên, lộ trình các bước và giải pháp thực hiện để phát triển các ngành khoa học kỹ thuật quan trọng. Qua đó phát hiện, đánh giá, khai thác, bảo vệ, phát triển tài nguyên, bảo tồn tự nhiên, bảo vệ môi trường, ngăn ngừa và phòng tránh thiên tai, kết hợp phục vụ kinh tế với đảm bảo chủ quyền và an ninh quốc phòng… Bên cạnh đó, cần có chính sách ưu tiên đặc biệt cho hoạt động KHCN biển; tăng cường hợp tác quốc tế để học tập kinh nghiệm và tiếp cận các phương pháp, thiết bị mới…

Nguồn: Báo Công Thương Điện Tử

There are no comments yet

Tin khác đã đăng